Trung tướng Nam Long – ‘Người cận vệ của Bác Hồ’ qua ký ức của con trai Kỳ 1: ‘Bố con là bộ đội, vậy thôi!’

Ở tuổi 58, ông Đoàn Nam Tiến bồi hồi nhớ lại những kỷ niệm không bao giờ quên về người cha vĩ đại, Trung tướng Nam Long – người đã bảo vệ Bác Hồ từ Pác Bó tới Hội nghị Quốc dân Tân Trào và về đến Thủ đô Hà Nội đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ngày 2.9.1945.

Nhân dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2.9, phóng viên Một Thế Giới đã có cuộc gặp gỡ với ông Đoàn Nam Tiến – con trai út của Trung tướng Nam Long (tên thật là Đoàn Văn Ưu), để tưởng nhớ về ông – “Người cận vệ của Hồ Chí Minh”.

Ông Đoàn Nam Tiến xúc động mở từng tấm hình, từng bài báo viết về cha của mình – Trung tướng Nam Long – Ảnh: Minh Đức

Tiếp phóng viên trong căn nhà nằm ở phố Phan Đình Phùng (Hà Nội) gắn với bao ký ức tuổi thơ, ông Đoàn Nam Tiến xúc động mở cho người viết xem từng tấm hình kỷ niệm, từng bài báo tư liệu về người cha vĩ đại, một vị tướng tài của Quân đội nhân dân Việt Nam, một nhân cách lớn.

“Điều đọng lại lớn nhất trong tôi là sự khiêm nhường, bình dị của cha. Ông ghét nhất là nói dối, những ai nói dối thì ông không giao tiếp.

Còn lại, trong suy nghĩ của ông dường như không hề có sự phân biệt chức vị. Ông trân trọng tất cả mọi người, đối xử chân thành, hoà nhã, từ bà con hàng xóm, những người lính, cấp dưới của ông, tới những người bạn thân từng cùng vào sinh ra tử.

Anh chị em chúng tôi cũng được dạy dỗ như vậy, cứ thấy khách của bố, bất kể đó là ai, chúng tôi đều một mực kính trọng”, ông Tiến mở đầu câu chuyện.

Được giác ngộ từ truyền thống gia đình, năm 16 tuổi, chàng thanh niên người dân tộc Tày Đoàn Văn Ưu ở xã Đề Thám, huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng (nay là phường Thục Phán, thành phố Cao Bằng) đã giúp người anh con cô con bác là ông Hoàng Đình Giong chuyển thư từ, tài liệu cho cách mạng.

Năm 1941, ông là một trong số những thanh niên ưu tú được Bác Hồ chọn đi học tại Trường quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc) lấy tên là Vũ Nam Long để bảo vệ bí mật trong quá trình hoạt động cách mạng.

tuong-nam-long-ava(1).jpg
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập ra đội quân chủ lực đầu tiên của các lực lượng vũ trang – Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ngày 22.12.1944. Trung tướng Vũ Nam Long (đội mũ đen, đứng cạnh người cầm cờ Tổ quốc là Đại tướng Hoàng Văn Thái) – Ảnh: Tư liệu/TTXVN

“Với truyền thống hiếu học từ gia đình, ngay từ nhỏ, cha tôi đã nhận thức rất rõ đất nước đang bị chia cắt Bắc – Trung – Nam và ông có một ước mơ thống nhất đất nước, non sông nối liền một dải.

Vậy nên ông mới lấy tên là Nam (nước Việt Nam) Long (Đồng bằng sông Cửu Long). Ông là chính trị viên Trung đội 2, Trung đội 4 Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân – tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Cả cuộc đời binh nghiệp, cha tôi luôn coi “Chiến trường là nhà, đất nước là quê hương”. Mọi chiến trường từ bắc vào nam, những trận đánh ác liệt nhất, lừng lẫy nhất, từ chiến thắng Điện Biên Phủ 1954 tới ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước 1975 đều có dấu ấn chỉ huy chiến đấu của cha tôi”, ông Đoàn Nam Tiến nhớ về cha.

Vào thời điểm đất nước đang chuẩn bị chào mừng đại lễ 2.9, mọi người trong gia đình Trung tướng Nam Long đều hân hoan, cảm nhận được niềm vinh dự với tư cách là hậu duệ của người Đại đội trưởng đơn vị bảo vệ Bác Hồ từ Pác Bó tới Hội nghị Quốc dân Tân Trào và về đến Thủ đô Hà Nội đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ngày 2.9.1945.

“Nhiệm vụ đó vô cùng quan trọng và mang ý nghĩa lịch sử gắn với vận mệnh của cả dân tộc. Cha tôi cùng các đồng đội đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, để lúc này, chúng ta đang được sống trong thời khắc trọng đại, kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập nước”, ông Tiến tự hào nói.

Theo dòng tâm sự, ông Đoàn Nam Tiến xúc động nhắc lại những kỷ niệm không thể nào quên về người cha vĩ đại của mình.

“Tôi còn nhớ như in, đó là năm 1973 khi tôi là một cậu bé 7 tuổi. Cha tôi từ trong chiến trường ra Hà Nội cùng một số đồng đội. Về nguyên tắc, khi tới nơi, các đồng chí đều bỏ súng ra để lau, kiểm tra.

Tôi còn quá nhỏ, có biết gì đâu, bao nhiêu năm mới được gặp cha, thấy súng thì rất lạ. Đôi tay bé tí của mình cầm khẩu súng hướng vào một người bảo vệ của cụ, súng đương nhiên không có đạn.

Vậy mà rất nhanh, cụ gạt phăng khẩu súng xuống đất, bạt tai tôi hai cái, ù hết tai, mặt mũi tối sầm, rồi nói: Súng chỉ nhằm vào kẻ thù, còn đây là đồng đội của cha”, ông Tiến kể lại bài học mà ông mãi khắc ghi.

Ông Đoàn Nam Tiến không thể nào quên những bài học, những kỷ niệm về người cha vĩ đại, được Đại tướng Võ Nguyên Giáp vô cùng coi trọng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tặng Trung tướng Nam Long 8 chữ: “Trung dũng, kiên cường, chân thành, đoàn kết”.

Một kỷ niệm nữa với cha là khi ông Tiến học lớp 7, chuẩn bị được vào Đoàn:

“Hồi ấy, mình cũng cố gắng học tập tốt, tích cực tham gia các phong trào thi đua của trường lớp nên được kết nạp Đoàn. Mình cảm thấy oai lắm, khai trong tờ lý lịch: Bố là tướng Nam Long. Cụ đọc rồi bảo bỏ đi, khiến tôi chẳng hiểu nổi vì sao. Giải thích cho tôi, cụ bảo, con khai lại đi, bố Nam Long, nghề nghiệp bộ đội, đừng có ghi tướng tá gì vào đây.

Lúc đó mình vẫn chưa hiểu được hết ý nghĩa. Sau này, mình mới cảm nhận rõ về cha. Trong suốt cuộc đời, cụ chỉ nghĩ mình là Bộ đội cụ Hồ”.

Càng trưởng thành, ông Tiến càng thấm thía sự lớn lao, cao cả của một vị tướng rất mực bình dị, khiêm nhường, đầy lòng nhân ái.

Ông Tiến bảo, so với các anh chị của mình, ông may mắn khi là con út và có thời gian sống cùng với cha nhiều nhất khi ông đã về hưu; được ông đưa đi thăm những vị chỉ huy, những chiến hữu cùng thời Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thượng tướng Trần Văn Trà, Thượng tướng Trần Văn Quang…

“Khoảng năm 1989, khi tôi là thuỷ thủ viễn dương, chưa lập gia đình. Vào 29 Tết năm ấy, đáng ra tôi phải đi Indonesia nhưng cuối cùng lại không phải đi, quay về Sài Gòn.

Về tới nhà, tôi thấy nhà cửa im ắng, chẳng có không khí Tết gì như những nhà hàng xóm. Tôi gọi: “Bố mẹ ơi, con không phải đi Indonesia nữa, được ở nhà ăn Tết”. Cụ mừng lắm, hai ông bà cùng nhau ra chợ mua được hai chậu hoa cúc về bày biện.

Tôi mới thắc mắc hỏi, sao nhà mình không chuẩn bị Tết? Cụ nói một câu làm tôi vô cùng xúc động: “Không có con thì không có Tết”.

Trung tướng Vũ Nam Long tên thật là Đoàn Văn Ưu (8.10.1921 – 1.7.1999), là con thứ 3 trong gia đình dân tộc Tày có 5 người con ở xã Đề Thám, huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng (nay là phường Thục Phán, thành phố Cao Bằng).

Tháng 6.1941, ông được Bác Hồ cử đi học tại Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc). Năm 1944, ông là chính trị viên Trung đội 2, Trung đội 4 Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân – tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông được kết nạp Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 1.1945.

Tháng 8.1945, ông được giao nhiệm vụ làm Đại đội trưởng đơn vị bảo vệ Bác Hồ từ Pác Bó tới Hội nghị Quốc dân Tân Trào và về đến Thủ đô Hà Nội đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ngày 2.9.1945.

Sau ngày thành lập nước, ông là Chi đội trưởng Nam tiến (được nhân dân Nam Bộ yêu mến đặt tên là “Chi đội Nam Long”) chiến đấu ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ.

Tháng 4/1946 ông đảm nhiệm các chức vụ: Trung đoàn trưởng Trung đoàn Hải Dương, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 59, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 36, ủy viên Khu 12; Trung đoàn trưởng Trung đoàn 141 – Sư đoàn 312; Chỉ huy phó Mặt trận Lạng Sơn, Đảng ủy viên Mặt trận.

Trong giai đoạn 1953-1955, ông được bổ nhiệm các chức vụ: Tham mưu trưởng Sư đoàn 304, Đảng ủy viên Sư đoàn; Sư đoàn trưởng Sư đoàn 304.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, ông chỉ huy đánh Hồng Cúm, bắt sống đại tá Lalawng và 2000 quân Pháp.

Năm 1956-1959, ông được cử đi học tại Học viện Quân sự Voroshilov (Nga)

Về nước, ông được bổ nhiệm làm Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Bộ tư lệnh Pháo binh.

Trong giai đoạn 1961-1973, được bổ nhiệm các chức vụ: Phó tư lệnh Quân khu Tả Ngạn; Phó tư lệnh, sau đó làm Tư lệnh Quân khu 4; Phó tư lệnh Quân khu Trị – Thiên.

Năm 1974, ông được bổ nhiệm làm Phó giám đốc Học viện quân sự.

Tháng 4.1975, ông là đặc phái viên của Bộ Quốc phòng tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh.

Năm 1977, ông được bổ nhiệm làm Phó giám đốc Học viện quân sự cấp cao.

Ông được phong quân hàm Đại tá năm 1958, Thiếu tướng năm 1974, Trung tướng năm 1981. Ông được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều Huân chương cao quý khác. Ông nghỉ hưu năm 1988.

Năm 2007, Trung tướng Nam Long được Hội khoa học lịch sử Việt Nam làm 3 pho tượng: 1 tặng tỉnh Cao bằng, 1 tặng Bảo tàng Quân đội và 1 tặng gia đình. Ông là vị tướng thứ 9 được đúc tượng.

(Còn tiếp)

Bài viết cùng chủ đề:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *